Nguyễn Phúc Chu

Học thuật
Thân thiện
Nguyễn Phúc Chu

Ông Nguyễn Phúc Chu ngồi đọc sách trong thư phòng.

Định nghĩa
  1. Danh từ riêng:
    • Tên hiệu của vị chúa Nguyễn thứ sáu: "Nguyễn Phúc Chu" tên của vị chúa thứ sáu thuộc dòng họ Nguyễn, cai trị Đàng Trong từ năm 1691 đến năm 1725.
    • Một nhân vật lịch sử quan trọng: Ông một nhà cai trị công mở mang bờ cõi về phía Nam, ổn định phát triển đất nước, đồng thời người sùng đạo Nho, mộ đạo Phật tài văn chương.
dụ sử dụng
  • Danh từ riêng:
    • Nguyễn Phúc Chu lên ngôi chúa vào năm 1691.
    • Công lao mở mang bờ cõi của chúa Nguyễn Phúc Chu được sử sách ghi nhận.
    • Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu, vùng đất Tiên chính thức thuộc về Đàng Trong.
Các cách sử dụng nâng cao
  • "Thời Nguyễn Phúc Chu": cụm từ dùng để chỉ giai đoạn lịch sử do vị chúa này cai trị, thường nhấn mạnh sự phát triển mở rộng lãnh thổ.

    • Thời Nguyễn Phúc Chu, việc khai khẩn đất phương Nam được đẩy mạnh.
  • "Chúa Nguyễn Phúc Chu": cách gọi trang trọng, đầy đủ, khẳng định vị thế lãnh đạo của ông.

    • Chúa Nguyễn Phúc Chu đã tiếp nhận sự quy phục của Mạc Cửu.
Biến thể từ gần giống
  • Minh Vương: Đây tên hiệu (thụy hiệu) của Nguyễn Phúc Chu, được đương thời gọi.
  • Hiến Tông Hiếu Minh Hoàng đế: Tên thụy hiệu đầy đủ được truy tôn sau khi ông mất.
  • Quốc Chúa: Danh xưng được sử dụng trong các văn bản chính thức thời ông cai trị.
Từ đồng nghĩa
  • Chúa Hiến Tông: Cách gọi theo thụy hiệu.
  • Chúa Minh: Cách gọi tắt theo tên hiệu.
Thành ngữ liên quan

(Không thành ngữ phổ biến nào trực tiếp sử dụng tên riêng "Nguyễn Phúc Chu")

Nguyễn Phúc Chu

Ông Nguyễn Phúc Chu ngồi đọc sách trong thư phòng.

  1. (ất Mão 1675 - ất Tị 1725)
  2. Chúa thứ 6 thời các chúa Nguyễn, con cả của Anh tông Nguyễn Phúc Trăn, mẹ Tống Thị. Thuở nhỏtrong cung, ông chăm học, chữ tốt, tài kiêm văn được phong Tả bính dinh Phó tướng, Tộ Trường Hầu
  3. Năm Tân Mùi 1691, chúa Anh tông mất, ông lên kế vị, triều thần tôn Bình Chương quân quốc trọng sự Thái bảo Tộ quốc Công, hiệu Thiên túng đạo nhân, đường thời gọi là Minh vương. Sau khi hết tang cha, được tôn làm Thái phó, Quốc Công, tôn hiệu Quốc chúa. Từ đấy trong các sắc dụ về nội trị, ngoại giao đều xưng Quốc chúa
  4. Thời ông cầm quyền, phía Bắc vẫn giữ biên thùy với chúa Trịnh, phía Nam ông đưa nhân dân đến các vùng đất mới phương Nam khai khẩn đất hoang sát biên giới Chân Lạp. Trong nước việc nội trị, bị, giáo dục được phát triển qui mô. Các năm Nhâm Ngọ, Quý Mùi (1702-1703) tàu biển nước ngoài đến cướp phá các hải đảo các cửa khẩu đều bị dẹp tan
  5. Năm Vĩnh Thịnh thứ tư, 1708, Mạc Cửu, người Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, trước đó đến khai thác vùng đất Tiên dâng thư lên triều đình xin đem đất này qui thuộc chúa Nguyễn. Ông nhận lời trao cho Mạc Cửu chức Tổng binh trấn giữ đất Tiên
  6. Ông người sùng đạo Nho, mộ đạo Phật, học rộng, hiểu nhiều cũng tác giả nhiều thơ văn giá trị Chính ông đã đề tựa "Bản sư" sách Hải ngoại sự của Hòa thượng Thích Đại Sán (1633-1704). Đời ông cầm quyền, Nam Bắc hòa bình được nhiều năm, nhân dân trong nước sống yên ổn hạnh phúc
  7. Năm Bảo Thái thứ 6 (ất Tị 1725) ông mất, ở ngôi 34 năm, thọ 51 tuổi, con trai con gái tất cả 146 người. Sau khi mất được triều đình dâng thụy hiệu Đô nguyên súy Tổng quốc chính Minh Vương, truy tôn Hiến tông Hiếu minh Hoàng đế, đường thời gọi là Quốc Chúa. Thi hài an tángnúi Kim Ngọc, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, phi (vợ chính) được truy tôn Từ Huệ cung Thục kinh phi